PHƯƠNG PHÁP ĐIỀU TRỊ VIÊM LOÉT DẠ DÀY TÁ TRÀNG BẰNG TÂY Y

Viêm loét dạ dày tá tràng là một trong những căn bệnh khá phổ biến ở nước ta, ước tính đến hiện nay có khoảng 7 – 10% dân số mắc bệnh này. Đặc biệt đối với căn bệnh viêm loét dạ dày tá tràng đó là nếu không được chữa trị sớm có thể sẽ dẫn đến tình trạng xấu là phải phẫu thuật dạ dày hoặc tử vong . Dưới đây là bài viết Các phương pháp điều trị loét dạ dày tá tràng bằng tây y 

Các phương pháp điều trị loét dạ dày tá tràng bằng tây y

- Nguyên tắc là bệnh nhân phải kiên trì sử dụng thuốc đúng theo hướng dẫn của thầy thuốc, thời gian điều trị từ 4 tuần đến 03 tháng tùy trường hợp.

- Phải loại bỏ những yếu tố gây loét như; ăn đúng bữa và đủ 3 bữa; giảm, bỏ rượu bia, thuốc lá; phân công việc ra giờ nào việc ấy để giảm lo lắng; ăn, ngủ, giải trí điều độ.

- Điều trị viêm loét dạ dày tá tràng không nhiễm HP: bao gồm các thuốc trung hòa a-xit, thuốc ức chế tiết a-xit ức chế thụ thể H2, ức chế bơm proton, thuốc băng vết loét Sucrafate, Bisthmus.

- Điều trị viêm loét dạ dày tá tràng có nhiễm HP điều trị như trên, cộng với phác đồ kết hợp 03 loại kháng sinh, tùy thể trạng bệnh nhân mà thầy thuốc chọn lựa cho phù hợp hoặc theo kháng sinh đồ. Điều trị này có nhiều khó khăn hơn như phải dùng nhiều kháng sinh có thể gây phản ứng phụ; lo ngại bệnh nhân không tuân thủ hướng dẫn có nguy cơ vi khuẩn HP kháng thuốc và dự đoán y khoa có nguy cơ 40% người bị viêm loét dạ dày tá tràng do HP không điều trị có thể chuyển thành ung thư dạ dày.

Loét dạ dày tá tràng là một lỗ hổng trong niêm mạc dạ dày, tá tràng. Khi lớp niêm mạc của hệ thống tiêu hóa bị ăn mòn bởi dịch tiêu hóa có tính acid sẽ gây ra các vết loét. Theo ước tính, từ 5% đến 10% người trưởng thành trên toàn cầu bị ảnh hưởng bởi loét đường tiêu hóa ít nhất một lần trong cuộc đời của mình.

Loét đường tiêu hóa là một vết loét của niêm mạc tiêu hóa, thường trong dạ dày hoặc tá tràng, tiếp xúc với sự tiết dịch vị acid. Khi loét đường tiêu hóa ảnh hưởng đến dạ dày nó được gọi là loét dạ dày, vị trí ổ loét ở tá tràng được gọi là loét tá tràng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng hầu hết các vết loét gây ra do nhiễm trùng bởi vi khuẩn có tên Helicobacter pylori (H. pylori). Vi khuẩn H. Pylori được tìm thấy trong dạ dày, và cùng với sự tiết acid, có thể gây tổn hại các mô của dạ dày và tá tràng, gây viêm và loét. Ngoài ra, các dịch tiêu hóa như acid, pepsin được cho là góp phần vào việc hình thành các vết loét. 

Các phương pháp điều trị loét dạ dày tá tràng bằng tây y :

Đối với nhóm loét viêm loét dạ dày tá tràng do nhiễm H.Pylori: Việc điều trị chủ yếu là dùng các phác đồ điều trị tiệt trừ H. Pylori. Các phác đồ 3 thuốc gồm một thuốc chống loét (Bismuth, Ức chế thụ thể H2 của Histamine, Ức chế bơm proton) kết hợp với hai kháng sinh (Tétracycline, Clarythromycine, Amoxicilline, Imidazole).

Các phác đồ 4 thuốc gồm 2 thuốc chống loét kết hợp với 2 kháng sinh thường dùng trong trường hợp thất bại với phác đồ 3 thuốc.

Các phác đồ điều trị thường có các tác dụng phụ như chua miệng, đắng miệng, nhức đầu, buồn ói và ói. Người bệnh cần cố gắng chịu đựng để uống đủ liều điều trị vì nếu bỏ dỡ điều trị sẽ làm tăng nguy cơ kháng thuốc về sau. 

Đối với nhóm loét viêm loét dạ dày tá tràng không do nhiễm H. Pylori: Việc điều trị gồm , Ngưng các thuốc gây loét, Điều trị với các thuốc chống loét. Trường hợp phải điều trị lâu dài các bệnh mạn tính với các thuốc có thể gây loét thì nên điều trị kết hợp với thuốc chống loét. Trường hợp bệnh nhân đã bị loét nếu cần phải điều trị với các thuốc có thể gây loét thì bắt buộc phải điều trị kèm với các thuốc chống loét.

Các thuốc chống loét dạ dày tá tràng không do nhiễm H. Pylori gồm 3 nhóm: 1 Thuốc kháng axít, 2 Thuốc chống tiết axít và 3 Thuốc bảo vệ niêm mạc.

- Thuốc kháng axít: là những thuốc có khả năng trung hòa axít của dịch dạ dày. Các thuốc kháng axít chủ yếu là các muối aluminium hoặc magnesium (hydroxide, phosphate) hiện nay được sử dụng trong điều trị triệu chứng của bệnh loét như đau bụng, đầy bụng, ợ hơi… Các thuốc thường chỉ có tác dụng khoảng 1 – 2 giờ nên phải dùng nhiều lần trong ngày. Các muối alumium thường gây táo bón; ngược lại, các muối magnesium thường gây tiêu chảy.

- Các thuốc chống tiết axít: gồm các thuốc Ức chế thụ thể H2 và Ức chế bơm proton làm giảm tiết axít của tế bào thành.

- Các thuốc bảo vệ niêm mạc gồm:

Bismuth dạng keo: có tác dụng che phủ ổ loét để bảo vệ ổ loét chống lại axít và pepsine của dịch vị.

Sucralfate: là một hỗn hợp sucrose sulfate và aluminium hydroxide, ở môi trường axít, hỗn hợp này tạo thành dạng gel che phủ ổ loét.

Prostaglandine: ức chế tiết axít đồng thời có tác dụng bảo vệ niêm mạc dạ dày tá tràng qua cơ chế kích thích tái tạo niêm mạc và tăng tiết nhày

- Điều trị hỗ trợ bằng thuốc tây y

Bên cạnh việc điều trị tiệt trừ H. Pylori hoặc điều trị thuốc chống loét bệnh nhân cần kiêng cữ các thức ăn chua cay, nhiều mỡ béo và phải ngưng hút thuốc lá, ngưng uống bia, rượu. Tránh bớt các nguyên nhân gây căng thẳng thần kinh

Thuốc có thể giúp trong việc quản lý các dấu hiệu và triệu chứng đau dạ dày không viêm loét bao gồm:

Thuốc kháng axit. Thuốc kháng axit (Maalox, Mylanta,…) dạng viên hoặc dạng lỏng là thuốc thường dùng để điều trị chứng khó tiêu. Thuốc kháng axit trung hòa axit dạ dày và có thể giảm đau nhanh chóng.

Biện pháp khắc phục giảm khí. Thuốc có chứa các thành phần simethicone có thể hỗ trợ bằng cách giảm khí. Ví dụ về các biện pháp làm giảm khí bao gồm Mylanta và khí - X.

Các loại thuốc để giảm sản sinh axit. Được gọi là thuốc chẹn thụ thể H2, các thuốc này cần kê đơn bao gồm cimetidine (Tagamet HB), famotidine (Pepcid AC), nizatidine (Axid AR) và ranitidine (Zantac 75). Thế hệ mạnh hơn của các thuốc này có sẵn ở dạng thuốc kê đơn.

Thuốc ức chế bơm axit. Ức chế bơm Proton bên trong các tế bào dạ dày tiết axit. Thuốc ức chế bơm proton làm giảm axit bằng cách ngăn chặn các hoạt động của những máy bơm nhỏ. Thuốc ức chế bơm proton bao gồm lansoprazole (Prevacid) và omeprazole (Prilosec OTC). Thế hệ thuốc ức chế bơm proton mạnh hơn cần kê đơn cũng có sẵn.

Thuốc tăng cường cơ vòng thực quản. Prokinetic giúp dạ dày trống rỗng nhanh hơn và có thể giúp thắt chặt các van giữa dạ dày và thực quản, làm giảm khả năng khó chịu vùng bụng trên. Các bác sĩ có thể kê đơn thuốc metoclopramid (REGLAN), nhưng thuốc này có thể có tác dụng phụ đáng kể.

Thuốc kiểm soát co thắt cơ. Các thuốc chống co thắt có thể giúp giảm đau dạ dày do co thắt trong các cơ đường ruột. Những thuốc này bao gồm dicyclomin (Bentyl) và hyoscyamine (Levsin).

Thuốc chống trầm cảm liều thấp. Thuốc chống trầm cảm ba vòng và các thuốc ức chế tái hấp thu serotonin có chọn lọc (SSRIs) đã được biết uống liều thấp có thể giúp ức chế hoạt động của tế bào thần kinh kiểm soát cơn đau ruột. Bác sĩ có thể kê đơn thuốc chống trầm cảm như nortriptyline (Pamelor) và desipramine (Norpramin). SSRI như sertraline (Zoloft) hoặc escitalopram (Lexapro) cũng có thể hữu ích.

Thuốc kháng sinh. Nếu xét nghiệm thấy vi khuẩn gây loét H. pylori có trong dạ dày, bác sĩ có thể khuyên nên dùng kháng sinh.

Bài viết : Các phương pháp điều trị loét dạ dày tá tràng bằng tây y

Share on Google Plus
    Blogger Comment
    Facebook Comment

0 nhận xét :

Đăng nhận xét